INVESTMENT CORPORATION

   



Tài Liệu

Hội chứng Tự tôn của “Mẹ Hổ”

Dịch từ “The ‘Tiger Mom’ Superiority Complex” của tác giả Suketu Mehta (Time Magazine)

Người dịch: Mai Hữu Tín, Nguyễn Thị Tuyết Mai

Quyển sách mới của Amy Chua và Jed Rubenfeld tìm cách lý giải lý do vì sao một vài nhóm người thành công trên đất Mỹ, còn các nhóm khác lại thất bại. Nhưng khi nào thì sự tự hào về văn hoá biến thành nạn phân biệt chủng tộc?

Bất kỳ người Mỹ gốc Ấn nào sẽ có lúc nhận được một email với phông chữ nhiều màu, như lần tôi nhận được từ ông tôi: “Hãy tự hào là người Ấn Độ. 38% bác sĩ ở Mỹ là người Ấn Độ. 36% nhân viên NASA là người Ấn Độ. 34% nhân viên MICROSOFT là người Ấn Độ. Ấn Độ phát minh ra Hệ thống Số. Dấu Thập phân cũng do Ấn Độ phát minh ra. Sanskrit là ngôn ngữ thích hợp nhất cho các phần mềm máy tính…”

Còn bây giờ trên bàn tôi là một phiên bản dài thành sách của một email kiểu như vậy “Bộ Ba: 3 Đặc điểm Khó có Giải thích Sự Thăng trầm của các nhóm Văn hoá ở Mỹ”, của Amy Chua và Jed Rubenfeld. Có thể bạn còn nhớ Chua, bà "Mẹ Hổ" trong hồi ký xuất bản năm 2011, nói về cách dạy con khắc nghiệt của người Hoa, làm dấy lên nhiều lo lắng trong các bậc cha mẹ người Mỹ đang đặt nhiều kỳ vọng vào con cái mình nhưng bản thân họ đã được dạy dỗ theo các cách thức dễ dãi của Bác sĩ Spock. Quyển sách mới của Chua, đồng tác giả với chồng mình, mở rộng mục tiêu để giải thích lý do tại sao không chỉ người Châu Á (như Chua) mà 7 nhóm người khác – người Cuba, người Do Thái (như Rubenfeld), người Ấn Độ (như tôi), người Ni-giê-ri-a, người Mormon, người Iran và người Li-Băng lại vượt trội hơn khi bàn về sự thành công trên đất Mỹ.

 'Mẹ Hổ' Amy Chua

Quyển sách khẳng định những nhóm người này phát triển mạnh được là do 3 đặc điểm: hội chứng tự tôn, sự bất an và khả năng kềm chế bốc đồng. Những nhóm người thiếu “Bộ Ba” này gồm người Mỹ gốc Phi, người Appalachia, người Ăng-lô-xắc-xông da trắng theo đạo Tin lành và hầu hết các nhóm người còn lại.

Cách tư duy này có làm bạn sốc không? Nếu không, có thể là vì cách tư duy này đã trở nên quá phổ biến, dù âm thầm, suốt thập kỷ qua bởi một xu hướng mới đơn giản hoá về chủng tộc, sắc tộc và văn hoá đã len lỏi vào trong đời sống tinh thần và công luận Mỹ. Nếu như việc đưa ra các nhận xét bao quát về văn hoá Mỹ-Phi hay Mỹ La tinh – dù khen hay chê – vẫn là chuyện không tưởng giữa những người lịch sự, thì việc có ý kiến về sự được coi là ưu việt về mặt văn hoá của vài nhóm "thiểu số mẫu" khác nhau đã trở nên khá bình thường trong 10 năm qua. Tôi gọi đó là chủ nghĩa phân biệt chủng tộc mới và tôi suy nghĩ khá cá nhân về chuyện này.

Tôi là một người Mỹ, được sinh ra tại Calcutta (Ấn Độ). Tôi đang viết một quyển sách về những người nhập cư ở New York, dành tặng cho 2 đứa con trai Mỹ của tôi. Tôi muốn chúng biết tại sao chúng tôi tới đây và chúng tôi tìm chỗ đứng trên vùng đất mới này như thế nào. Tôi muốn chúng biết về những giáo viên trường Cơ đốc giáo ở khu Queens đã từng gọi tôi là “kẻ ngoại đạo”, về một cậu bé ở đó đã chào đón tôi đến trường bằng tuyên bố “Lẽ ra Lincoln đã không nên để chúng rời khỏi đồn điền”, và về vị chủ nhà đã chào đón chúng tôi đến với đất nước này bằng cách cắt nguồn điện.

Tôi cũng muốn các con tôi biết tại sao cuối cùng gia đình chúng tôi lại thành công. Đúng, chúng tôi làm việc chăm chỉ, chúng tôi đọc nhiều sách, học đúng trường và được “định cư tốt”, họ hàng của chúng tôi ở Ấn Độ nói về chúng tôi như thế. Nhưng chúng tôi cũng được hưởng nhiều lợi thế khác – từ vốn văn hoá được xây đắp qua nhiều thế hệ đến các chương trình hành động tích cực đến mạng lưới quan hệ đã được hình thành tại quốc gia mới này – không có thứ nào trong các lợi thế này liên quan tới sự ưu việt về chủng tộc, sắc tộc hay văn hoá cả.

Khi gia đình tôi đến Mỹ, chúng tôi bỏ lại sau lưng một hệ thống mà trong đó con người thường bị xem thường bởi giai cấp, tôn giáo, ngôn ngữ hoặc màu da của họ. Dĩ nhiên Mỹ cũng có một quá khứ rắc rối nặng nề về phân biệt chủng tộc, nhưng họ đã chọn một lối đi theo hướng bình đẳng hơn.

Tuy vậy, gần đây ngôn ngữ của nạn phân biệt chủng tộc ở Mỹ đã thay đổi, dù cốt truyện vẫn còn nguyên đó. Vấn đề không còn là màu da nữa, mà là “bản sắc văn hoá”, dưới lốt đội của những luận điểm khoa học xã hội nhảm nhí. Những người phân biệt chủng tộc mới này hiểu rõ rằng họ không nên xem thường những nền văn hoá cụ thể. Do vậy mà họ chọn cách tiếp cận khác đi. Họ ca tụng một số nền văn hoá nào đó, coi những nền văn hoá này như kiểu mẫu, với hàm ý - lúc công khai, lúc lập lờ - rằng các nền văn hoá khác thấp kém hơn và xem đây là là lý do giải thích cho việc không thể thành công.

Sự trỗi dậy của Tư duy nhóm

Mỹ, cũng như Bra-xin hay Anh, đều thích nghĩ rằng họ đã vượt được vấn đề chủng tộc. Ít nhiều gì thì chúng tôi cũng đã bầu một tổng thống da đen những 2 lần. Nhưng trong thực tế nạn phân biệt chủng tộc chỉ thay đổi địa hình thôi. Sự hợm hĩnh từng chỉ nhắm vào người Mỹ gốc Phi trước đây nay nhắm vào người Mỹ La-tinh, người Hồi giáo và - thật lạ - nhắm cả vào nhiều nhóm người da trắng. Và bản thân những kẻ hợm hĩnh này có thể là người da đen hoặc nâu.

Trong quá trình nghiên cứu cho quyển sách của mình, một người Công-gô nhập cư đã kể tôi nghe về những người Mỹ gốc Phi mà cô ấy biết tại siêu thị cô ấy làm việc. “Chúng tôi thực sự khác nhau,” cô ấy nói về cộng đồng của mình để phân biệt với những người Mỹ gốc Phi. “Họ không có những giá trị của Phi Châu. Họ không có được những giá trị của người da đen.”

Tôi yêu cầu cô tả giải thích thêm.

Cô ấy giải thích rằng: “Là người da đen có nghĩa là bạn lập gia đình và trước đó bạn không có con.” Còn những người Mỹ da đen tại siêu thị của cô lại cần vào đại học. “Họ mời tôi hút cần sa. Họ coi việc đó là bình thường. Họ không ngại miệng khi nói rằng ‘Tổ tiên của tôi bị áp bức.’”

Sách dạng như quyển “Bộ Ba”, ngay cả khi cố sức biện luận bằng các ngôn từ không phân biệt chủng tộc, là một ví dụ rõ nét của kiểu tư duy vị chủng này. Và đây chỉ là quyển mới nhất trong rất nhiều quyển khác trong hơn một thế kỷ qua tranh luận về sự ưu việt của một nhóm người Mỹ nào đó so với những nhóm khác. Gốc rễ của sự ưu việt tự phong này đã thay đổi qua thời gian từ vấn đề chủng tộc đến giai cấp, đến IQ, đến tôn giáo rồi bây giờ là văn hoá.

Năm 1916 Madison Grant viết quyển “Hồi kết của Chủng tộc Vĩ đại”, với mục đích minh hoạ cho sự vượt trội về văn hoá và chủng tộc của người Bắc Âu so với người Nam Âu. Quyển sách đã tạo được ảnh hưởng lôi kéo sự ủng hộ to lớn cho việc thông qua đạo luật Johnson-Reed năm 1924. Đạo luật này cấm người châu Á nhập cư vào Mỹ và thiết lập chỉ tiêu nhập cư cho người Đông và Nam Âu, nhằm cấm cửa người Do Thái. Nhiều thập kỷ sau đó, một bài báo gây ảnh hưởng của Bernard Rosen năm 1959 tuyên bố rằng “Người theo đạo Tin Lành, người Do Thái và người Hy Lạp coi trọng việc giáo dục về tính độc lập và thành đạt hơn người Ý và người Ca-na-da gốc Pháp.” Họ thành công hơn do “hội chứng thành tích” – xem ra giống lời lẽ của quyển “Bộ Ba”. (Đáng lưu ý là các bài viết này coi người Ý là dân tộc thụ động. Nhưng đến 1975, họ đã đồng hoá được, và hiện nay, như nhà xã hội học Richard Alba đã chứng minh, thanh niên Mỹ gốc Ý có mức tốt nghiệp Đại học và sau Đại học cao hơn trung bình)

Cách thức biện hộ này mở rộng hơn trong thế kỷ 21. Năm 2004 giáo sư trường Harvard Samuel Huntington, nổi tiếng với quyển “Sự Xung đột của các nền Văn minh”, đã cảnh báo về văn hoá La-tinh trong một bài viết lên trang bìa của tờ Chính sách Đối ngoại với nhan đề “José, Anh thấy không?” Trong quyển sách xuất bản năm sau đó mang tên “Chúng ta là ai? Các Thách thức cho Nhận diện Quốc gia Mỹ”, ông giải thích sự khác biệt giữa văn hoá Anh và La tinh bằng việc trích dẫn lời của một doanh nhân Texas rằng “Các đặc điểm của người châu Mỹ La tinh làm ‘những người La tinh chúng ta tụt hậu’: không tin người ngoài gia đình; thiếu chủ động, tự lực và tham vọng; đặt ưu tiên thấp cho giáo dục; coi việc chấp nhận đói nghèo là đức tính cần thiết để được lên thiên đàng.”

Năm 2009, một bài báo của thành viên Viện Doanh nghiệp Mỹ Jason Richwine với nhan đề “Người Mỹ gốc Ấn: Mẫu hình mới của Người thiểu số” đã thu hút sự chú ý của người Mỹ gốc Ấn như tôi. Ông lưu ý rằng người Đông Á tiếp tục vượt trội ở Mỹ nhưng người Ấn rõ ràng là mẫu hình mới nhất và giỏi nhất. Tại sao? “Dẫn chứng rõ nhất là cuộc thi đánh vần.” Thành công trong khả năng đánh vần và những việc liên quan đến nhận thức tương tự khác, theo Richwine, chứng tỏ chúng tôi thông minh hơn người da trắng và người Do Thái gốc Đức và Bắc Âu. Đây là một khám phá vui cho cha tôi vì cả đời ông gắn với nghiệp buôn bán kim cương, nơi mà đối thủ nặng ký nhất chính là những người này. Kết luận của Richwine là: chính sách nhập cư nên ưu đãi những nhóm thiểu số mẫu này hơn những nhóm khác, như người Mêxicô chẳng hạn.

Tiếp đó Thomas Sowell từ Đại học Stanford đã xác định sáu “nhóm thiểu số trung gian” tiêu biểu trong quyển “Di cư và Văn hoá: Một Góc nhìn về Thế giới”. Ông cho rằng sáu nhóm này đại diện điển hình cho các đức tính của doanh nhân mà nước Mỹ rất cần. Năm ngoái ông nâng lập luận này thêm mức nữa khi viết rằng có một số nền văn hoá không tương thích được với các giá trị phương Tây, chủ yếu là (ngạc nhiên chưa!) văn hoá Hồi giáo.

Những câu chuyện vô vị này không chỉ đùng đùng đến từ giới nghiên cứu (tháp ngà). Chúng có mặt đầy xung quanh chúng ta trong các câu chuyện thường ngày về sự thành đạt hay thất bại của các nhóm người. Điển hình là video trên mạng gần đây của diễn viên hài Adam Carolla phỏng vấn thị trưởng San Francisco Gavin Newsom. Newsom lưu ý rằng một nửa số gia đình người Mỹ La tinh hay Mỹ gốc Phi ở California không có tài khoản ngân hàng hoặc ATM.

“Họ làm sao vậy? Tôi muốn biết tại sao 2 nhóm người đó không có tài khoản… Họ có khiếm khuyết gì à?... Người Châu Á có bị như vậy không?... Họ bị giam. Họ có xuất hiện ở các nơi đổi séc (chi phiếu) lấy tiền mặt không?” Carolla hỏi.

Newsom trả lời rằng “Hãy nhìn vào lịch sử. Thật ngây thơ khi cho rằng những thứ đó không quan trọng.”

“Còn người Do Thái thì sao?” Carolla hỏi. “Không có vấn đề trong quá khứ sao?... Tại sao người Do Thái sống khá giả hơn?... Tại sao có những nhóm người sống tốt hơn thế nhiều? Để tôi nói ông nghe lý do: Là vì gia đình họ coi trọng giáo dục.” Carolla có thể dùng lời lẽ hơi khinh suất, nhưng ngôn từ của anh ta cho thấy ranh giới giữa sự khen tặng hay xem thường một nền văn hoá nào đó có thể mờ nhạt dễ dàng.

 

Vishaun Lawrence (người Ha-mai-ca) đang làm lễ nhập quốc tịch ở Chicago năm ngoái 

Về Tính sắc tộc và Thực tế

Có một thứ luôn làm các con trai tôi kinh ngạc khi về thăm Ấn Độ. Đó là sự hợm hĩnh thể hiện với một số nhóm người. Các con tôi ghét cách mà người Ấn nói chuyện với người giúp việc, tài xế, phục vụ bàn, và bất cứ ai mà họ xem là thấp kém hơn họ về mặt xã hội. Tôi cố giải thích cho chúng rằng Ấn Độ chỉ mới độc lập được hơn 60 năm thôi, còn Mỹ đã độc lập lâu hơn gấp 3 lần và tuy Ấn Độ đã rất tiến bộ trong việc theo đuổi dân chủ, nhưng chưa đạt được sự bình đẳng về kinh tế và xã hội.

Tuy nhiên, chủ nghĩa phân biệt chủng tộc mới ở Mỹ đang quay ngược chiều kim đồng hồ. Dù Chua và Rubenfeld không phải là những người duy nhất rêu rao lối tư duy nguy hại này, nhưng sách của họ có thể biến họ thành những người phát ngôn nổi bật cho tư duy như vậy. Do vậy chúng ta nên nhìn cận cảnh những “bằng chứng” mà họ sắp xếp cho luận điểm của mình. Họ và những người cùng chí hướng với họ rất nhiều khi bỏ qua thực tế của lịch sử Mỹ để chứng minh cho các lý thuyết nửa mùa của mình.

Hai tác giả cố gắng biện minh rằng họ không phân biệt chủng tộc khi quả quyết rằng Bộ Ba không liên quan gì đến chủng tộc hay IQ; mà chỉ là sắc tộc. Do vậy không phải cứ da đen là thất bại, ví dụ như người Ni-giê-ri-a và người Li-bê-ri-a! Họ có mặt nhiều trong Ivy League (liên minh các trường đại học nổi tiếng)! Nhưng hai tác giả này lại quên nhìn nhận rằng người Châu Phi và Ca-ri-bê gốc Phi được thụ hưởng những chương trình hành động tích cực mà người Mỹ gốc Phi đã có được qua đấu tranh giành quyền con người. Thêm vào đó, người Mỹ gốc Phi không gặp khó khăn vì thiếu tự hào chủng tộc hoặc thiếu khả năng kềm chế bốc đồng. Những thử thách của họ với tư cách là một cộng đồng đã có từ nhiều thế kỉ trước; người ta đưa họ tới đây trong xiềng xích, hãm hiếp phụ nữ của họ và làm tan rã gia đình họ. Tổng thống Obama đã nói về việc này khi phát biểu sau bản án của Trayvon Martin như sau, “Tôi nghĩ chúng ta cần nhận thức rằng cộng đồng người Mỹ gốc Phi đang nhìn nhận vấn đề này thông qua những trải nghiệm và quá khứ không hề mất đi.”

Lúc nào xem xét những tuyên bố của các nhà phân biệt chủng tộc mới này, chúng tôi luôn tìm thấy những lý giải khác sâu hơn và thường là phức tạp hơn về lý do tại sao trẻ em trong một số nhóm giỏi hơn những nhóm khác.

Nancy Foner, một học giả hàng đầu chuyên nghiên cứu vấn đề nhập cư, nêu trong một bài viết rằng, “Ngày nay, cách thức mà người Đông Á nhập cư (khác với người da đen hay người La tinh) hòa nhập vào hệ thống thứ bậc chủng tộc của NewYork đã tạo ra sự khác biệt trong việc mang lại cơ hội cho con cái họ.” Cô ta lưu ý rằng, vì họ không phải người da đen, nên “người Đông Á (và người da trắng) nhập cư ít phải đối mặt với nạn phân biệt chủng tộc hơn trong việc tìm nơi ở rồi sau đó cho con họ đi học.” Điều này có nghĩa là họ có cơ hội lớn hơn để tiếp cận các khu vực đông người da trắng có trường công tốt. Hơn nữa, nếu học cùng trường với trẻ em da đen hay La tinh bản địa, trẻ em Đông Á  không cảm thấy có sự gắn kết chủng tộc với các nhóm người thiểu số bản xứ này. Do vậy chúng sẽ khó có thể hoà mình vào văn hóa đồng đẳng có giữa các thanh niên da đen và La tinh bất mãn sống ở nội thành.

Trong khi đó thì người Cuba lại được những người phân biệt chủng tộc mới ưu ái nhiều hơn các nhóm người La tinh khác, vì xem ra họ sống tốt hơn các nhóm khác, ví dụ như người Mê-xi-cô, trên đất Mỹ. Nhưng chuyên gia về đồng hóa sắc tộc Philip Kasinitz từ Đại học Thành phố New York lại nhận định rằng, “Nếu người Mê-xi-cô đưa 10% những người giỏi nhất trong dân số họ sang Mỹ thì các bạn sẽ phải hát về người Mê-xi-cô bằng một giọng điệu khác.” Và trong số những người Cuba, có một bộ phận là người Marielito vẫn chưa sống tốt. Họ nhập cư vào năm 1980 khi Fidel Castro thả hết tù nhân trên đảo quốc này và cho phép họ tự do đến Mỹ. Những người này có nước da sẫm hơn những  người Cuba nhập cư trước đó và về mọi mặt thì họ thua xa những đồng bào da sáng hơn họ. Điều này có nghĩa gì? Thứ nhất, nếu bạn thành công ở quốc gia mà bạn đang định rời đi, thì bạn sẽ thành công ở quốc gia mà bạn đang nhắm tới và ngược lại. Thứ hai, người da sáng hơn có xu hướng làm ăn sinh sống tốt hơn người da sẫm hơn khi họ nhập cư vào Mỹ, ngay cả khi họ đến từ cùng một quốc gia.

Còn người Do Thái thì sao? Những học giả như Stephen Steinberg trong quyển Thần thoại Sắc tộc (The Ethnic Myth) chỉ ra rằng người Do Thái nhập cư thành công trên đất Mỹ chủ yếu là do họ đến Mỹ với “kinh nghiệm công nghiệp và các kỹ năng nghề nghiệp cụ thể” rất phù hợp với các nền kinh tế đô thị đang bùng nổ của thế giới mới này. Chứ không phải như cách Chua và Rubenfeld lý giải, rằng vì “Người Do Thái tin tưởng qua hàng nghìn năm rằng họ là những người được Chúa chọn.”

Có vẻ có phần hơi kỳ lạ, khi Chua và Rubenfeld cũng đưa người Mormon vào vị trí người thiểu số mẫu. Ví dụ như, họ cho rằng thành công trong kinh doanh của người Mormon là do các nguyên tắc dạy con của nhóm người này. Họ viết “Thiếu niên Mormon ít quan hệ tình dục, uống rượu, hút bồ đà, hoặc xem phim khiêu dâm hơn thiếu niên của bất kỳ tôn giáo nào khác.” Tuy nhiên, hai tác giả đã bỏ qua một chi tiết nhỏ về người Mormon là: họ có tiểu bang riêng của họ. Người Mormon nắm 80% cơ quan lập pháp của bang Utah; toàn bộ đoàn nghị sĩ của bang Utah là người Mormon. Trong lịch sử bang Utah chỉ có 3 thống đốc không phải là người Mormon. Điều này tạo ra lợi thế chính trị và tài chính vô cùng lớn cho tôn giáo này và là một phần không thể thiếu cho sự thành công về kinh doanh của họ.

Cuối cùng, chúng ta sẽ nói gì về người Ấn, cùng với người Hoa, là những nhóm thiểu số mẫu được yêu thích nhất của những người phân biệt chủng tộc mới? Chua và Rubenfeld ghi nhận rằng người Ấn trên đất Mỹ là “nhóm sắc tộc theo điều tra dân số thành công nhất tại quốc gia này, dù đo lường bằng cách thức nào.”

Vâng, nếu người Ấn giỏi như vậy thì giải thích ra sao về nước Ấn đây? Đất nước này là một mớ hỗn độn đáng buồn, với số dân nghèo đói, bệnh tật và mù chữ lớn nhất trên thế giới, kinh tế tuột dốc, chính trị tham nhũng thậm tệ. Nhiều thập kỷ qua, những người có điều kiện đã chạy khỏi Ấn Độ. Cái giá 1000 USD cho một vé bay một chiều sang Mỹ là cả một năm lương trung bình của người Ấn. Giả sử nếu Ấn Độ sát biên giới với Mỹ và những người dân nghèo nhất cũng có thể đi bộ qua Mỹ, thì chúng tôi sẽ nhanh chóng không còn là nhóm thiểu số mẫu nữa, và người dẫn các chương trình truyền hình (talk-show) cũng sẽ xỉ vả chúng tôi như họ làm vậy với người Mê-xi-cô thôi.

Các nhóm người mà Chua và Rubenfeld cũng như những người phân biệt chủng tộc mới khác thường chọn làm điển hình thành công hầu hết là các ví dụ của quá trình tự sàng lọc. 42% người Ấn ở Mỹ trong độ tuổi 25 trở lên có bằng trên đại học. Nhưng chỉ khoảng 20% những người họ bỏ lại ở quê nhà tốt nghiệp trung học, và 26% dân số mù chữ. Người Ni-giê-ri-a cũng vậy: những người ở Mỹ đại diện cho một bộ phận giàu hơn rất nhiều và được giáo dục tốt hơn rất nhiều so với toàn bộ dân số tại quê hương họ.

Hơn nữa, các tác giả hầu như không quan tâm đến vai trò của các mối quan hệ - vốn rất quan trọng trong việc tạo ra sự thành công của các nhóm người như Do Thái, Cuba và Ấn Độ. Một phần lý do có nhiều nhóm nhập cư phát triển mạnh là bởi vì khi đến Mỹ, họ đã có 1 ông chú có cửa hàng riêng, có anh em họ làm gia sư, bác sĩ hay luật sư có thể giúp họ thu xếp cuộc sống ở quốc gia mới này.

Khi gia đình tôi nhập cư năm 1977, chúng tôi thành công không phải vì biết dành dụm cho tương lai, vì sự ưu việt về văn hoá hay vì có địa vị cao hơn người khác. Chúng tôi thành công là vì ông chú làm kỹ sư ở Detroit đã mang chúng tôi qua đó theo luật đoàn tụ gia đình, không phải mang cùm hay trốn trong hầm tàu. Khi cha tôi bắt đầu kinh doanh kim cương ở đường thứ 47 khu Manhattan, các nhà buôn kim cương người Ấn ở đó đã chỉ đường đi nước bước cho ông. Sẽ đến lúc các con trai của tôi hưởng lợi từ các mối quan hệ của tôi.

Quyển Bộ Ba này tập trung vào người nhập cư vào thành phố New York, thật dễ hiểu vì New York xưa cũng như nay luôn là thủ đô nhập cư của Mỹ, nếu không nói là của toàn thế giới. Hãy xem những thông tin quý giá từ quyển sách mới được Sở Kế hoạch Thành phố New York xuất bản nhan đề “Những người New York  mới nhất”, tóm tắt số liệu về nhiều nhóm người khác nhau tạo nên nơi tôi sinh sống này.

Số liệu cho thấy, người Mỹ gốc Hoa tại Thành phố New York kiếm được ít tiền hơn các nhóm người khác không có Bộ Ba. Thu nhập trung bình của hộ gia đình người Hoa tại đây ở mức 42.766 USD, thấp hơn của người Ecuado ở mức 46.126 USD, người Haiti ở mức 48.175 USD và người Pakistan ở mức 50.912 USD. Nhóm người ở New York có tỉ lệ tốt nghiệp trung học cao nhất không phải là người Hoa hay Ấn; mà là người Ukraina với 94,4%. Thế nhưng hiếm khi nào chúng ta được nghe những lời khen tặng về sự ưu việt văn hoá của các bà mẹ chuyên làm Súp của cải (món ăn truyền thống của người Ukraina, chơi chữ với tên gọi mẹ Hổ).

Sự xuất sắc thực sự của nước Mỹ

Thật đáng tiếc là quyển sách này, và toàn bộ cách biện hộ này nữa, lại được nhiều người, bao gồm những người bà con của tôi, tin tưởng trong khi tất cả học giả mà tôi tới xin ý kiến đều cười nhạo. Các tác giả khẳng định rằng “Tiền đề nào tạo cơ sở cho lý thuyết Bộ Ba này cũng đều được khẳng định qua bằng chứng thực nghiệm đầy đủ và hầu như không gây tranh cãi”. Nhưng Foner, một trong những nhân vật có uy tín được nêu tên trong phần ghi chú của sách thì “Thôi nào. Có nhiều tài liệu cho rằng nhân tố quan trọng nhất quyết định sự thành công của trẻ em các nhóm nhập cư chính là vốn sống của cha mẹ chúng.” Đó là các kỹ năng và giáo dục, từ đời này đến đời khác và từ cá nhân này đến cá nhân khác.

Nhưng tôi không hề có ý cho rằng văn hoá là vô nghĩa, ngay cả khi “văn hoá xấu” là cách tiện nhất để trách cứ các nhóm người đang gặp khó khăn, thay vì bàn đến các nguyên nhân chính yếu đứng đằng sau kết quả khác nhau của các nhóm người này. Tất cả chúng ta đều có một văn hoá về ngôn ngữ, tôn giáo, chủng tộc, sắc tộc hay quốc gia hình thành nên phần lớn chúng ta. Các giá trị văn hoá của một nhóm người là một phần quan trọng để trả lời cho câu hỏi tại sao một số nhóm nào đó, trong thời điểm cụ thể nào đó, lại sống tốt hơn các nhóm khác.

Nhưng các giá trị văn hoá không bao giờ là câu trả lời trọn vẹn cho thành công và thất bại, dù chúng ta đặt các giá trị văn hoá này lên trên mọi lời giải thích khác, ví dụ như kinh tế và chính trị. Văn hoá hiếm khi là một lực tốt rõ ràng hay xấu rõ ràng. Do vậy, các giá trị Nho giáo về giáo dục và trung thành với gia đình chắc chắn phải là một nhân tố khi giải thích lý do tại sao sinh viên Trung Quốc đến từ tầng lớp thu nhập thấp lại thành công hơn bạn bè họ. Nhưng như chúng ta đã thấy, câu chuyện không chỉ có vậy. Trong khi đó thì nhiều người Trung Quốc lại muốn thấy có sự khác biệt trong văn hoá của họ. Họ tin rằng nền văn hoá này đã kiềm nén phần lớn tư duy tự do tạo ra sự sáng tạo và đổi mới trên đất Mỹ và khiến công dân thụ động chấp nhận sự áp bức với mọi hành động chống đối và kiểm duyệt Internet.

Chua và Rubenfeld mắc thêm một lỗi nữa khi họ cố thiết lập một hệ thống thứ bậc văn hoá tốt và xấu, trong đó văn hoá tốt luôn có nghĩa là sẽ giàu có. Họ định nghĩa sự thành công theo Oliver Wendell Holmes Sr., tức là "có tiền và có địa vị.” Các đặc điểm văn hoá như sự tử tế, phục vụ cộng đồng hay tinh thần quân nhân không có chút giá trị nào.

Chua và Rubenfeld khẳng định rằng người nhập cư luôn cảnh giác với “văn hoá quá dễ dãi của Mỹ”, coi đây là ông kẹ ám ảnh giấc mơ của rất nhiều người cho rằng Mỹ đã mất đi sức sống từng có. Nhưng chẳng phải chính sự dễ dãi đó: sự pha trộn hỗn tạp, sự ồn ào hoang dã, thơ rondeau thô kệch, sự hoà nhập đơn giản, là điều tạo ra sức mạnh Mỹ? Chẳng phải những thứ này tràn ngập phim ảnh, sách báo Mỹ? Chẳng phải đây là những sản phẩm chính mà Mỹ vẫn đang có thể xuất khẩu? Chính sự dễ dãi của văn hoá Mỹ, năng lượng thế giới mới này của Mỹ, vẫn thu hút mọi người đến với “cánh cửa vàng.”

Điều này xảy ra với cha tôi khi ông còn là sinh viên Đại học ở Calcutta vào những năm 1950. Đó là lần đầu tiên ông được tiếp xúc với thể loại nhạc rock-‘n’-yell tuyệt vời của Chuck Berry và Elvis, loại nhạc mà các vị trưởng tu viện dòng Tên của nhà thờ Thánh Xavier cố ngăn cấm vì họ không chịu nổi cảnh các sinh viên lắc mông. Loại nhạc kêu gào tuyệt vời mà cha tôi chưa từng được nghe này, cùng với phim và sách suy đồi của Mỹ, đã gieo vào đầu chàng trai trẻ ước mơ một ngày nào đó được đến sống ở nơi này.

Tuân thủ không phải là điều tạo nên sự vĩ đại của quốc gia này; mà đó là do từng cá nhân dám làm khác đi kỳ vọng của nền văn hoá của anh ta, như Bill Gates và Mark Zuckerberg bỏ học ở Harvard giữa chừng, như Miles Davis cai nghiện heroin rồi viết nên  album nhạc jazz Round About Midnight, như cô bé 14 tuổi Billie Holiday biến đau thương thời thơ ấu thành những bài hát buồn đẹp nhất, như Sylvia Plath thách đố cái chết bằng thuốc và thơ, như William S. Burroughs viết được Naked Lunch giữa những cơn nghiện; đó còn là Hemingway, Fitzgerald, Cheever và Carver uống và viết, viết và uống qua những cơn say. Hãy tưởng tượng xem văn hoá Mỹ sẽ ra sao nếu nghệ sĩ Mỹ luôn phải kiềm nén chặt bốc đồng của họ.

Người ta mơ ước đến sống ở Mỹ không phải chỉ để cẩn trọng, chăm chỉ và dè dặt. Chú Vipinmama của tôi thường kể tôi nghe chuyện về cha mẹ chú ấy, tức ông bà tôi. Họ di cư từ Ahmedabad ở Ấn Độ đến Nairobi (Kenya) vào những năm 1920. Cả đời họ ở quốc gia mới này, họ không dám xài thứ gì đắt tiền để dành dụm cho tuổi hưu. Họ thuê một căn phòng ở Ahmedabad và chất đầy những món đồ cần thiết cho cuộc sống mà họ không dám xài ở Nairobi: tủ lạnh, máy giặt, tủ thép, máy sinh tố…. Họ dự định khi về hưu sẽ mua một căn nhà ở Ahmedabad và chuyển những món đồ để dành quí giá đó của họ về đó.

Trong khi căn phòng thuê ở Ahmedabad phình ra với đồ đạc gởi từ Châu Phi qua, với hàng loạt thiết bị nằm chờ tới ngày được sử dụng, thì họ tiếp tục sống ở Nairobi thật giản dị và tằn tiện. Lúc 50 tuổi, bà tôi bị nhồi máu cơ tim chết, người Gujaratis gọi đó là “đi xa”. Ông tôi sau đó rời Nairobi về lại Ahmedabad và mua một căn nhà. Nhưng ông không thể sống trong giấc mơ khi không còn nửa kia để sẻ chia. Vì thế chỉ trong 1 tháng, ông bán cả ngôi nhà và tất cả đồ đạc mà họ đã kiên nhẫn dành dụm nhưng chưa dùng đến bao giờ, và bỏ đi London.

Câu chuyện này có ảnh hưởng vô cùng lớn với chú Vipinmama, và do vậy mà chú ấy theo đuổi hạnh phúc trong từng ngày mình sống. Tất cả những người phục vụ rượu giỏi ở Bombay, New York và Antwerp đều biết chú ấy. Chú chơi ghita, chơi cri-kê cho trường Đại học. Chú di du lịch, ngay cả khi việc làm ăn không thuận lợi lắm. Rồi chú ấy cũng đi xa sau một cơn nhồi máu cơ tim do bệnh tim bẩm sinh lúc 34 tuổi, nhưng không hề bỏ phí cuộc đời. Bởi lúc còn sống, khi mua được thứ gì là chú đều mang về nhà bật lên ngay. Nếu là máy hát đĩa, chú sẽ nhảy theo nhạc; nếu là đầu video, chú sẽ mời hết bạn bè tới coi phim ngay buổi tối đó. Chắc bạn nghĩ ông tôi muốn chú tôi cẩn trọng hơn, dè dặt hơn. Nhưng thực ra, ông tôi rất tự hào về chú tôi, tự hào hơn bất cứ người Ấn huyền thoại nào trong email mà ông gởi lòng vòng cho con cháu, bởi vì chú ấy không bỏ đời mình trì hoãn hạnh phúc hay trông chờ quyền lực.

*Mehta là tác giả quyển “Thành phố Cực đại: Bombay Mất đi và Tìm thấy” và giảng dạy tại Học viện Báo chí Arthur L. Carter, Đại học New York.

Đây là bản dịch không chính thức. Rất mong được đóng góp để bản dịch hoàn thiện hơn

Mọi sao chép xin ghi rõ nguồn: www.unigroup.com.vn

Đóng góp cho bản dịch qua email: maintt@unigroup.com.vn