INVESTMENT CORPORATION

   



Tài Liệu

Quản lý Công việc, Quản lý Cuộc đời

Dịch từ bài viết “ Manage Your Work, Manage Your Life” của tác giả Boris Groysberg và Robin Abrahams (Harvard Business Review)

Người dịch: Mai Hữu Tín, Nguyễn Thị Tuyết Mai

 
 Chi tiết về tác phẩm: Đàn ông và Dây, do Liliana Porter thực hiện năm 2009 bằng dây và nét bút chì trên giấy

Cân bằng giữa công việc và cuộc sống hay lắm chỉ là một lý tưởng khó hiểu còn thường thì hoàn toàn là chuyện thần thoại, các giám đốc cấp cao của ngày hôm nay sẽ nói với bạn như vậy. Nhưng bằng cách lựa chọn có cân nhắc nên theo đuổi cơ hội nào và bỏ qua cơ hội nào thay vì chỉ đơn giản ứng phó với các trường hợp khẩn cấp, các lãnh đạo có thể gắn bó có ý nghĩa hơn với công việc, gia đình, lẫn cộng đồng. Từ trải nghiệm vất vả của bản thân họ hiểu rằng việc thành công trong hàng ngũ cấp cao tùy thuộc vào khả năng kết hợp một cách cẩn trọng giữa công việc và gia đình để không đánh mất bản thân, người thân, và địa vị thành công của họ. Những người làm tốt việc này lôi kéo gia đình mình cùng tham gia vào các quyết định và các hoạt động liên quan đến công việc. Họ cũng thận trọng làm chủ vốn sống của mình bằng cách cố gắng chia sẻ đều bản thân cho cả công việc và gia đình trong nhiều năm chứ không phải chỉ vài tuần hoặc vài ngày.

Các lãnh đạo doanh nghiệp thế kỷ 21 trong nghiên cứu của chúng tôi đã điều hoà cuộc sống chuyên môn và cá nhân như thế. Bài báo này có từ 5 năm phỏng vấn gần 4.000 giám đốc trên toàn thế giới, do sinh viên của Trường Kinh Doanh Harvard thực hiện, và một cuộc khảo sát 82 giám đốc trong một khoá học lãnh đạo cũng của trường này.

Lựa chọn có cân nhắc không bảo đảm khả năng kiểm soát hoàn toàn. Cuộc sống đôi lúc dẫn dắt bạn, dù đó là bệnh mất trí của cha mẹ hay tai nạn xe cộ của con cái. Nhưng nhiều giám đốc mà chúng tôi đã khảo sát, nam cũng như nữ, đều giữ được đà của họ qua những thách thức này trong khi vẫn gắn bó với gia đình mình. Những câu chuyện và lời khuyên của họ phản ánh 5 chủ đề chính: định nghĩa sự thành công cho bản thân, quản lý công nghệ, xây dựng mạng lưới hỗ trợ cho công việc và gia đình, du lịch hoặc chuyển chỗ ở có chọn lọc, và cộng tác với nửa kia của mình.

Định nghĩa sự thành công cho bản thân

Khi bạn đang dẫn dắt một dự án quan trọng, bạn quyết định ngay từ đầu mục tiêu cần đạt được. Dẫn dắt cuộc đời theo ý mình cũng theo nguyên tắc tương tự như vậy: Bạn phải xác định thành công có ý nghĩa gì với bạn, và hiểu rằng định nghĩa đó đương nhiên sẽ tiến triển theo thời gian.

Định nghĩa về thành công trong nghề nghiệp và cá nhân của các giám đốc bao trùm từ chiến thuật đến khái niệm. Với người này thì có nghĩa là được ở nhà ít nhất 4 đêm một tuần. Với người kia là hiểu được những diễn biến trong đời sống các thành viên trong gia đình. Còn với người nọ thì lại là việc có được năng lượng tình cảm cả khi làm việc lẫn khi về nhà.

Một số khác biệt về giới tính đáng suy nghĩ xuất hiện trong dữ liệu khảo sát của chúng tôi như sau: Khi xác định thành công nghề nghiệp, phụ nữ coi trọng hơn nam giới về thành tích cá nhân, có đam mê công việc, được tôn trọng, và tạo được khác biệt, nhưng lại xem nhẹ hơn nam giới về thành tích của tổ chức, về học tập lên cao và phát triển. Có ít phụ nữ hơn nam giới xem thành đạt về tài chính là một phần của thành công trong nghề nghiệp hay cá nhân. Các mối quan hệ có ích được cả 2 giới xem là yếu tố phổ biến nhất để có thành công cá nhân, nhưng trong khi đàn ông chỉ nêu đơn giản việc có gia đình là một chỉ dấu thành công, thì phụ nữ lại mô tả rõ ràng với họ một cuộc sống gia đình hạnh phúc phải như thế nào. Phụ nữ cũng nhắc đến nhiều hơn tầm quan trọng của bạn bè, cộng đồng và gia đình.

Các câu trả lời trong khảo sát bao gồm các đoạn viết ngắn và các danh sách, còn khi phỏng vấn thì các giám đốc thường định nghĩa thành công cá nhân bằng cách kể một câu chuyện hoặc mô tả về chính cá nhân mình hay một khoảnh khắc nào đó ở mức lý tưởng. Những câu chuyện và tự nhận thức về bản thân như vậy là những mục tiêu tạo động lực giúp mọi người xác định được thứ tự ưu tiên cho các hoạt động và hiểu được những xung đột và mâu thuẫn.

Ví dụ như khi trách nhiệm công việc và trách nhiệm gia đình có xung đột, đàn ông có thể viện dẫn vai trò văn hoá của người biết kiếm tiền. Vài sếp nam thừa nhận không dành đủ thời gian cho gia đình lại xem sự thiếu hụt đó là một cái giá chấp nhận được để con cái họ có được những cơ hội mà bản thân họ không thể có. Một người từng có tuổi thơ cơ cực chia sẻ rằng thành công tài chính của anh ta vừa để lo cho con cái vừa để chứng nhận rằng những cố gắng của cha mẹ anh ta đã đem lại kết quả. Một người khác thậm chí còn xem sự tan vỡ của gia đình anh ta là một thay đổi tích cực: “Ngẫm lại, thì tôi vẫn sẽ quyết định tập trung vào sự nghiệp như đã làm, vì tôi đã có thể lo lắng được cho gia đình và đi tiên phong trong lĩnh vực của mình, những thứ này có ý nghĩa rất lớn đối với tôi. Hiện tại tôi tập trung vào việc học của các con… và dành thời gian nhiều hơn cho chúng vào cuối tuần.”

Thậm chí các sếp nam tự hào cho rằng họ khá cân bằng giữa công việc và các mặt khác trong cuộc sống còn so sánh bản thân họ với mẫu hình đàn ông lý tưởng truyền thống. “10 phút tôi dành cho con cái vào buổi tối đáng giá gấp 1 triệu lần 10 phút trong công việc,” một người được phỏng vấn nói như thế. Khó có thể tưởng tượng một người phụ nữ tự tán dương mình khi dành ra 10 phút mỗi ngày cho con cái, nhưng một người đàn ông có thể xem hành vi đó là mẫu mực.

Thật vậy, phụ nữ hiếm khi xem chuyện lo cho gia đình theo cách của đàn ông. Đàn ông vẫn nghĩ rằng trách nhiệm gia đình của họ là kiếm cơm, trong khi phụ nữ thường xem trách nhiệm của họ là làm gương cho con cái. Phụ nữ nhấn mạnh (hơn xa đàn ông) về tầm quan trọng của việc làm cho con cái họ - đặc biệt là con gái - xem họ như những chuyên gia có năng lực. Một người nói, “Tôi nghĩ việc đó là một phần lớn trong con người tôi. Tôi muốn con tôi hiểu những gì tôi làm. Tôi là một người toàn diện.”

Nhiều phụ nữ nói rằng phần khó nhất khi quản lý công việc và gia đình là việc đấu tranh với các kỳ vọng văn hoá về thiên chức người mẹ. Một người thừa nhận rằng cô ấy ngưng làm việc tại nhà sau khi con gái cô ấy gọi kênh truyền hình Bloomberg là “kênh của Mẹ”. Một người khác lại nhận xét rằng, “Với đồng lương tốt, bạn có thể có mọi trợ giúp (thiết thực) cần có. Dù vậy, điều khó khăn nhất, điều khiến các bạn nữ của tôi phải bỏ việc, là cảm giác tội lỗi thật sự về mặt tình cảm khi không dành đủ thời gian cho con cái. Tội vắng nhà.”

Cả đàn ông và phụ nữ đều có cảm giác tội lỗi này và đều cho rằng thành công cá nhân đồng nghĩa với việc không phải hối hận. Họ thường đối phó với cảm giác đó bằng cách gán ý nghĩa đặc biệt cho một tiêu chí cụ thể nào đó, ví dụ như không bỏ lỡ các trận bóng của con mình hay hỏi thăm các thành viên trong gia đình mỗi ngày một lần dù có bận bịu thế nào. “Tôi ưu tiên cho bữa cơm tối với gia đình như thể đó là cuộc họp lúc 6h với khách hàng quan trọng nhất,” một người được phỏng vấn nói như thế. Một người khác lại đề nghị như sau: “Thiết kế nhà hợp lý, đặt bàn trong bếp để con bạn có thể làm bài tập trong khi chồng bạn nấu nướng còn bạn thì thưởng thức một ly vang đỏ.” Dù coi đó là lời khuyên, nhưng rõ ràng đây là hình dung rất cá nhân và cụ thể của cô ấy về một đời sống gia đình thành công.

Quản lý công nghệ

Gần như tất cả những người được hỏi đều nói về tầm quan trọng của việc xử lý e-mail, tin nhắn, hộp thư thoại và các phương thức liên lạc khác. Việc quyết định truy cập các phương tiện này để làm việc khi nào, ở đâu và như thế nào luôn là một thách thức, đặc biệt là với các giám đốc có gia đình. Nhiều người cảnh báo về việc sử dụng công nghệ để có mặt ở cả hai nơi cùng lúc khi nhấn mạnh giá trị của việc toàn tâm toàn ý. Một người nói, “Khi tôi ở nhà là tôi thực sự ở nhà. Tôi không cho phép mình được kiểm tra mail, nghe điện thoại… Tôi muốn dành 100% sự quan tâm cho con mình. Ở đầu bên kia cũng vậy. Khi tôi đang làm việc thì tôi thực sự muốn chú tâm vào công việc thôi. Tôi tin rằng nếu trộn lẫn hai phạm vi này quá nhiều sẽ dẫn đến lộn xộn và sai sót.”

Quan điểm vừa nêu là mối bận tâm phổ biến: Luôn kết nối có thể làm giảm hiệu suất làm việc. Một giám đốc nọ quan sát thấy rằng “các quá trình nhận thức nhất định diễn ra khi bạn ngừng trả lời email liên tục.” (Lịch sử khoa học thường được đánh dấu bằng những phát hiện xảy ra không phải trong phòng thí nghiệm mà là khi các nhà khoa học đang làm một công việc trần tục nào đó hay thậm chí khi đang ngủ). Một giám đốc khác chỉ ra rằng việc kết nối suốt 24 giờ có thể làm giảm khả năng sáng tạo trong một tổ chức: “Nếu bạn có nhân viên yếu kém lúc nào cũng hỏi ý kiến của bạn, bạn sẽ cảm thấy mình quan trọng. Nhưng nên biết phân biệt khi nào bạn thực sự là người quan trọng và khi nào bạn không để mọi người xung quanh làm việc nếu không có bạn.”

Đáng chú ý hơn, một số sếp lớn đang bắt đầu sử dụng công nghệ liên lạc ít hơn trong công việc. Một số người viện dẫn câu nói “Bạn không thể dạy con qua điện thoại” – và chỉ ra rằng đó cũng không phải là cách tốt nhất để quản lý đội ngũ nhân viên. Thông thường nếu có thể thì bạn nên gặp trực tiếp. Làm sao bạn biết khi nào nên làm như thế? Một người được phỏng vấn nêu ra khác biệt quan trọng giữa việc phổ biến thông tin với việc trao đổi và phân tích ý tưởng như sau: “Nói chuyện (qua điện thoại) thì quá dễ, nhưng hãy cẩn thận bởi vì ngày nay mọi người ít lắng nghe chăm chú. Với những trao đổi quan trọng nhất, tôi thấy mọi người quay lại xu hướng nói chuyện trực tiếp. Khi bạn đang xem xét những giao dịch trị giá hàng tỉ đô la… thì bạn phải gặp trực tiếp thôi.”

Khi bàn về chuyện sử dụng công nghệ khi ở nhà, hơn 1/3 các giám đốc trong khảo sát của chúng tôi xem công nghệ là “kẻ xâm lấn”, và khoảng ¼ xem công nghệ là “người giải phóng”. (Số còn lại thì trung hoà hoặc có cảm giác lẫn lộn). Một số người bực bội vì điện thoại di động xâm chiếm thời gian mà họ dành cho gia đình, một người nọ than rằng: “Khi điện thoại reo, thật khó dán mắt vào trận bóng trên tivi.’” Còn những người khác lại đánh giá cao sự linh hoạt mà công nghệ mang lại cho họ, một người tham gia phỏng vấn nói: “Tôi thường rời khỏi đây khoảng 4h chiều để vui chơi với các con, nhưng tôi sẽ về quay lại trước 8h tối để tập trung vào công việc và e-mail.” Một người tham gia khác cũng nói: “Thỉnh thoảng các con tôi tỏ vẻ khó chịu khi tôi sử dụng BlackBerry lúc ăn tối, nhưng tôi nói với chúng rằng nhờ có BlackBerry mà tôi có thể ngồi ở nhà với chúng.”

Cả hai phe, phe ghét và phe thích kết nối công nghệ, đều thừa nhận rằng các giám đốc nên học cách quản lý công nghệ liên lạc một cách khôn ngoan. Nói chung, họ xem đó là một người hầu tốt nhưng là một ông chủ xấu. Lời khuyên của họ đối với vấn đề này khá thống quán: Hãy dành thời gian nhưng đừng quá mức cho đội ngũ của bạn; hãy trung thực với chính bản thân mình về khả năng đảm nhận cùng lúc nhiều việc; hãy xây dựng các mối quan hệ và lòng tin bằng những buổi gặp mặt trực tiếp; và hãy giữ hộp thư email đến trong tầm kiểm soát.

Xây dựng mạng lưới hỗ trợ

Nói chung, các giám đốc cấp cao khẳng định rằng quản lý cuộc sống chuyên môn và gia đình cần nhiều người hỗ trợ phía sau hậu trường. Khi thiếu vắng một người trông nom chính ở nhà thì việc thuê mướn người làm hay được hỗ trợ từ bà con họ hàng là điều cần thiết. Những người phụ nữ trong mẫu chọn của chúng tôi rất cương quyết về vấn đề này. Một người nói rằng, “Chúng tôi thuê người làm những công chuyện nhỏ nhặt như là đi chợ, nấu ăn, mặc đồ cho lũ trẻ… để chúng tôi có thể ở nhà với chúng cho những việc quan trọng hơn.” Thậm chí cả những người không có con cũng nói rằng họ cần sự hỗ trợ ở nhà khi họ phải phụng dưỡng cha mẹ già hoặc khi chính bản thân họ gặp vấn đề về sức khoẻ.

Hỗ trợ tinh thần cũng quan trọng không kém. Cũng như bất kỳ ai, các giám đốc đôi lúc cũng cần trút bầu tâm sự khi họ phải giải quyết việc gì đó điên đầu hay khó chịu trong công việc. Những lúc như thế bạn bè và gia đình là khán giả an toàn hơn đồng nghiệp của họ. Thỉnh thoảng các lãnh đạo cũng nhờ tới các quan hệ cá nhân của mình để có thêm cách nghĩ khác về một vấn đề hay một quyết định nào đó, bởi vì những người trong đội ngũ của họ không phải lúc nào cũng có đủ khoảng cách để có ý kiến khách quan.

Sự hỗ trợ trong công việc cũng quan trọng. Các đồng nghiệp đáng tin cậy là nguồn lực rất có giá trị. Nhiều lãnh đạo chia sẻ rằng khủng hoảng sức khoẻ của họ hoặc của những thành viên trong gia đình họ có thể đã làm sự nghiệp của họ chựng lại nếu không có sự giúp đỡ của những ông chủ và đồng nghiệp giàu lòng trắc ẩn. Ngay cả những sự nghiệp được hoạch định cẩn thận nhất cũng có thể bị những điều bất ngờ phục kích.

Một người được phỏng vấn nói rằng, “Khi còn trẻ, bạn nghĩ bạn có thể kiểm soát được mọi thứ, nhưng thực ra bạn không thể.” Các giám đốc kể những câu chuyện về nhồi máu cơ tim, ung thư, và chăm sóc cha mẹ già. Một người nọ kể về chuyện anh ta bị phản ứng loạn thần kinh với thuốc. Trong những hoàn cảnh đó, các cố vấn và các thành viên trong đội ngũ đã giúp họ vượt qua khoảng thời gian khó khăn và sau đó quay về với công việc như bình thường.

Còn việc hoà nhập các mối quan hệ cá nhân và quan hệ công việc thì sao, khi mà các giám đốc trước sau gì cũng phải dùng đến cả hai mối quan hệ này? Vấn đề này được đưa ra thảo luận. Các sếp nam mà chúng tôi khảo sát có xu hướng thích tách biệt hai mối quan hệ này hơn, còn các sếp nữ thì lại nửa này nửa kia. Những người thiên về hoà nhập nói rằng họ cảm thấy nhẹ nhàng khi được là “cùng một người” trong mọi hoàn cảnh và hình thành các mối quan hệ trong công sở, nơi mà họ dành phần lớn thời gian, một cách tự nhiên. Còn những người muốn tách biệt giữa đời sống công việc và đời sống cá nhân lại có rất nhiều lý do khi làm như thế. Một số người tìm kiếm sự mới lạ và đối trọng với làm việc. Một người chỉ ra rằng: “Nếu mọi trung tâm giao tiếp xã hội của bạn đều quanh quẩn trong môi trường làm việc của bạn, thì khả năng là các tác động và ý tưởng mà bạn trải nghiệm sẽ ngày càng ít đi.” Những người khác lại muốn bảo vệ các quan hệ cá nhân của mình khỏi những xáo trộn của nơi làm việc.

Nhiều sếp nữ tách biệt hai mảng quan hệ của họ vì sợ sẽ ảnh hưởng đến hình ảnh cá nhân. Vài người không bao giờ nhắc đến gia đình trong công việc vì họ không muốn bị coi là không chuyên nghiệp. Một vài sếp nữ sẽ không bàn tới nghề nghiệp, hay thậm chí nhắc đến việc họ có việc làm, trong các cuộc trò chuyện ngoài công việc. Nhưng không phải phụ nữ nào cũng có mâu thuẫn giữa “cái tôi” nghề nghiệp và cá nhân như vậy, vài người cho rằng thuỷ triều đang đảo hướng. Một người nhấn mạnh rằng, “Càng có nhiều phụ nữ đi làm thì tôi càng nói nhiều về con cái.”

Du lịch hoặc chuyển chỗ ở có chọn lọc

Các cuộc bàn luận về cân bằng đời sống và công việc thường tập trung vào việc quản lý thời gian. Nhưng việc quản lý chỗ ở của bạn, nói bao quát hơn là vai trò của bạn trong nền kinh tế toàn cầu, cũng quan trọng không kém. Khi các lãnh đạo quyết định du lịch hay chuyển chỗ ở (trong hay ngoài nước), thì đời sống gia đình đóng một vai trò hết sức quan trọng. Đó là lý do tại sao nhiều người trong số họ tin rằng nên có những trải nghiệm toàn cầu và di chuyển nhiều khi còn trẻ và chưa bị vướng bận. Trong số những người mà chúng tôi khảo sát, 32% nói rằng họ đã từ chối các bổ nhiệm ở nước ngoài vì không muốn gia đình họ chuyển chỗ ở, và 28% nói rằng họ làm thế để bảo vệ cho hôn nhân của họ.

Vài giám đốc chia sẻ về chuyện sự nghiệp của họ bị lạc hướng hoặc trật nhịp bởi vì người yêu hay chồng/vợ của họ cần chuyển chỗ ở. Dĩ nhiên là việc di chuyển sẽ khó khăn hơn nữa nếu bạn có con. Nhiều phụ nữ cho biết họ đã phải cắt giảm các chuyến đi sau khi có con, và vài giám đốc khác ở cả hai giới đã từ chối chuyển chỗ ở khi con họ đang trong độ tuổi thiếu niên. “Khi con cái còn nhỏ dễ di chuyển hơn, nhưng khi chúng 12 hay 13 tuổi rồi thì chúng muốn được ở yên một chỗ.”

Các sếp nữ ít có khả năng được yêu cầu hoặc đồng ý nhận các bổ nhiệm ở nước ngoài hơn các sếp nam, một phần là vì trách nhiệm gia đình nhưng phần khác cũng vì vai trò giới tính hạn chế trong một số nền văn hoá hoặc nhận thức cho nên họ không sẵn sàng di chuyển. Kết quả khảo sát của chúng tôi, từ những người thường xuyên di chuyển, phù hợp với các khám phá định tính của các sinh viên thực hiện phỏng vấn. Hầu như không có sếp nam nào trong khảo sát (ít hơn 1%, trong khi tỉ lệ nữ là 13%) từ chối các công việc quốc tế do các lo ngại về văn hoá. Nhưng đối với các sếp nữ thì rõ ràng không phải ai cũng có thể di chuyển như nhau: Tiêu chuẩn giới tính, luật lao động, điều kiện chăm sóc sức khoẻ, và quan điểm về cân bằng giữa công việc và cuộc sống khác nhau giữa các quốc gia. Một sếp nữ người Mỹ nói rằng phải nỗ lực nhiều hơn khi ở Châu Âu để không bị cho là đáng sợ mà theo cô ta là do chiều cao của mình. Một sếp nữ khác chia sẻ rằng ở Trung Đông cô ấy phải mang theo các nam đồng nghiệp đến các buổi họp để chứng tỏ uy tín của mình.

Dù phụ nữ chịu nhiều khó khăn hơn như vậy, nhưng các công việc quốc tế lại không dễ dàng cho bất cứ ai, và có thể là không đáng có với nhiều giám đốc. Cả 2 giới đều có thể gầy dựng được sự nghiệp mãn nguyện khi làm việc chỉ ở một quốc gia hay thậm chí là một thành phố nào đó. Tuy nhiên, nếu không thích di chuyển, thì các giám đốc trẻ tham vọng nên quyết định thật sớm. Vì như vậy họ mới có thể không vướng vào một ngành công nghiệp không phù hợp với gu địa lý của họ và cho họ thời gian để tìm cách khác ngoài việc di chuyển để chứng tỏ khả năng tiếp nhận cái mới, sự tinh tế, đa dạng về kỹ năng, và sự sẵn sàng thăng tiến cao và xa hơn của họ. (Vài giám đốc lưu ý rằng kinh nghiệm quốc tế thường được xem là một chỉ dấu cho những thuộc tính cá nhân đó.) Một giám đốc nọ nhận xét như sau, “Kinh nghiệm quốc tế có thể có ích, nhưng kinh nghiệm đều khắp trong mọi ngành nghề của công ty cũng quan trọng không kém. Cả 2 dạng kinh nghiệm này giúp bạn hiểu rằng không phải ai cũng tư duy giống bạn.” Nhiều giám đốc thậm chí đặt câu hỏi về tương lai của việc nhảy việc trên toàn cầu này, với lưu ý rằng các chi phí do ô nhiễm, phí nhiên liệu và các vấn đề an ninh có thể thắt chặt ngân sách di chuyển trong tương lai.

Hợp tác với nửa kia của bạn

Quản lý bản thân, công nghệ, các mối quan hệ và việc đi lại - quả là một nhiệm vụ khó khăn. Các lãnh đạo có đời sống gia đình vững chắc lặp đi lặp lại việc cần có một cái nhìn chung về sự thành công cho mọi thành viên trong gia đình chứ không chỉ riêng với bản thân họ. Phần lớn các giám đốc trong mẫu chọn của chúng tôi có người yêu hoặc vợ/chồng, và những mục tiêu chung gắn kết họ với nhau. Quan hệ của họ mang lại cơ hội cho cả hai phía mà lẽ ra họ đã không có được - dù đó là công việc bị (hoặc ít bị) gián đoạn, là du lịch mạo hiểm, là làm cha làm mẹ thật tập trung, hay là ảnh hưởng đến chính trị hoặc cộng đồng.

Các lãnh đạo cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của các mối quan hệ bổ sung cho nhau. Nhiều người nói rằng họ đánh giá cao sự nhạy bén về cảm xúc, khả năng tập trung vào công việc, tư duy toàn diện, định hướng chi tiết của nửa kia của họ. Nói gọn hơn, là bất kỳ kỹ năng nhận thức hay hành vi nào của nửa kia mà có thể làm cân bằng các xu hướng của bản thân họ. Nhiều người chúng tôi khảo sát xem sự hỗ trợ tinh thần là đóng góp lớn nhất của nửa kia cho sự nghiệp của họ. Cả đàn ông và phụ nữ đều nói rằng nửa kia của họ tin tưởng họ hay đã thuyết phục họ chấp nhận các rủi ro trong kinh doanh hoặc theo đuổi những cơ hội nghề nghiệp tuy không có lợi trước mắt nhưng sẽ mang lại thỏa mãn về lâu dài. Họ cũng trông đợi nửa kia của họ phản biện và góp ý chân thành. Một giám đốc nọ cho biết rằng nửa kia của cô ấy nêu “những câu hỏi khó thử thách tư duy của tôi để tôi có thể chuẩn bị tốt hơn cho một quan điểm đối lập.”

Nửa kia có thể hỗ trợ bằng nhiều cách, nhưng chung quy nhất là họ có thể giúp một giám đốc quản lý vốn sống của mình một cách hiệu quả. Áp lực và những đòi hỏi trên vai các giám đốc rất khắc nghiệt, đa chiều và liên tục. Nửa kia có thể giúp họ để mắt tới những việc quan trọng, quản lý quỹ thời gian và năng lượng của họ, giúp họ sống khoẻ mạnh và ra những lựa chọn có cân nhắc - đôi khi là những lựa chọn khó khăn - về công việc, việc đi lại, quản lý việc nhà, và tham dự vào cộng đồng.

Tuy vậy, xem ra đàn ông nhận được hỗ trợ từ nửa kia nhiều hơn. Nhiều sếp nam mà chúng tôi phỏng vấn có vợ làm nội trợ thường nói về sự sẵn lòng của vợ trong việc chăm sóc con cái, chịu đựng làm việc nhiều giờ, và thậm chí chấp nhận chuyển chỗ ở, như một cách sống. Nhưng nói chung, họ không trông đợi kiểu "vợ công ty" kinh điển của những năm 1950 – tức phải lo bữa tối cho chủ và làm tiệc cocktail cho khách hàng. (Những trường hợp ngoại lệ vẫn còn tồn tại ở một số quốc gia và ngành công nghiệp. Một sếp nam làm ở mỏ dầu khí nói rằng, “Khi bạn sống và làm việc trong trại như vậy, bạn rất cần để vợ mình nói chuyện với các người vợ khác.”) Đàn ông thường xuyên lưu ý rằng vợ họ không cho phép họ bỏ bê gia đình, sức khoẻ và đời sống xã hội. Ví dụ như: “Vợ tôi đấu tranh quyết liệt cho bữa tối của gia đình, và tôi về nhà dùng cơm tối mỗi ngày ngay cả khi tôi phải quay lại làm việc sau đó.”

Ngược lại, phụ nữ lại khá hay nhắc đến việc chồng họ sẵn sàng giải phóng họ khỏi vai trò truyền thống trong gia đình. Một người giải thích trong một nhận xét tiêu biểu rằng, “Anh ấy hiểu được các yêu cầu với vai trò của tôi và không tạo áp lực cho tôi khi công việc chiếm nhiều thời gian hơn tôi mong đợi.” Nói cách khác, các sếp nam có xu hướng ca ngợi những đóng góp tích cực của vợ đối với sự nghiệp của họ, còn phụ nữ thì ca ngợi chồng vì không can thiệp vào công việc của họ.

Nhìn vào dữ liệu khảo sát, chúng tôi thấy sự khác biệt nổi bật giữa hai giới. Đến 88% sếp nam lập gia đình, còn với sếp nữ là 70%. 60% sếp nam có vợ không làm việc toàn thời gian bên ngoài, so với chỉ 10% sếp nữ. Các sếp nam trung bình có 2,22 đứa con, trong khi các sếp nữ có trung bình 1,67 đứa.

Lãnh đạo của ngày mai nghĩ gì

Việc tất cả những người được phỏng vấn đồng ý dành thời gian quý báu của họ để chia sẻ quan điểm với sinh viên có thể là do ảnh hưởng của việc chọn lọc (người được phỏng vấn). Các lãnh đạo bận rộn quyết định giúp đỡ sinh viên có lẽ là những người coi trọng những mối quan hệ cá nhân. Vì họ sẵn sàng suy ngẫm về công việc và cuộc sống, nên nhiều khả năng họ đang có các lựa chọn có cân nhắc ở cả hai lĩnh vực, và chắc chắn là họ có đủ tiền chi trả để được hỗ trợ việc nhà. Tất cả những điều này có thể lý giải tại sao nhiều người được phỏng vấn cho biết rằng về cơ bản họ hạnh phúc dù gặp khó khăn và ít người chịu tổn thất nghiêm trọng đến hôn nhân hay gia đình do các áp lực nghề nghiệp. Mẫu chọn này là một nhóm người ưu tú có vị trí tốt hơn hầu hết người khác để có được cân bằng giữa công việc và đời sống. Thế mà họ vẫn coi việc cân bằng này là việc không thể buộc những người còn lại trong chúng ta phải có cái nhìn thực tế tỉnh táo.

Những sinh viên làm công việc phỏng vấn nói rằng những lãnh đạo mà họ nói chuyện chia sẻ nhiều lời khuyên có giá trị về cách duy trì cả công việc lẫn gia đình. Một sinh viên phỏng vấn cho biết, “Tất cả đều có lúc phải hy sinh hoặc nhượng bộ nhưng nhấn mạnh vai trò quan trọng của một người vợ, người chồng hay một gia đình biết cảm thông.” Dù vậy, nhiều sinh viên phải giật mình khi biết các lãnh đạo phải hy sinh gia đình đến mức nào và rằng thế giới kinh doanh đạt được rất ít tiến bộ trong việc thích nghi với nhu cầu của gia đình.

Các sếp nam thừa nhận rằng họ vẫn chưa đặt ưu tiên thích đáng cho gia đình. Và so với đàn ông thì phụ nữ sẵn sàng không có con hoặc không có gia đình hơn để tránh áp lực kết hợp giữa công việc và gia đình. Một người nói rằng, “Vì không phải là mẹ nên tôi chưa trải nghiệm vấn đề gây bất bình đẳng lớn nhất là có con.” Cô ấy nói thêm rằng, “Người ta cho rằng nếu bạn không có con thì một là bạn không có khả năng đó hoặc hai là bạn là một con quỉ cái đầy tham vọng. Do vậy dù sự nghiệp của tôi chưa bị tác động tiêu cực nào cả, nhưng nhiều khả năng cá nhân tôi đã bị đánh giá rồi đấy.”

Các giám đốc ở cả hai giới xem sự căng thẳng giữa công việc và gia đình chủ yếu là vấn đề của phụ nữ. Điều đó làm các sinh viên nản lòng. Một sinh viên giải thích, “Với việc đàn ông vẫn chiếm ưu thế ở những vị trí lãnh đạo trong các doanh nghiệp trên toàn cầu, tôi e rằng nhiều tổ chức sẽ mất nhiều thời gian hơn nên có để giúp phụ nữ quản lý hiệu quả công việc và đời sống cá nhân của họ.”

Các sinh viên cũng phản đối một tư tưởng khá phổ biến của nhiều lãnh đạo là bạn không thể cạnh tranh trong thị trường toàn cầu nếu theo đuổi một cuộc sống “cân bằng”. Khi một giám đốc nọ tranh luận rằng không thể cùng lúc có được “một gia đình hạnh phúc, được theo đuổi sở thích, và một nghề nghiệp tuyệt vời” thì lúc đầu người sinh viên phỏng vấn nghĩ “Đó chỉ là quan điểm của anh ta.” Nhưng sau khi nói chuyện thêm với các lãnh đạo khác thì sao? “Mọi giám đốc đều xác nhận quan điểm này theo cách này hay cách khác, và tôi phải tin rằng đó là thực tế trong thế giới kinh doanh ngày nay.” Hãy chờ xem liệu ngày mai thực tế đó có thể thay đổi hay không, và thay đổi như thế nào.

Chúng tôi không thể dự báo được môi trường làm việc hay gia đình sẽ ra sao vào cuối thế kỷ này, hay hai thực thể này sẽ cùng tồn tại như thế nào. Nhưng chúng tôi có thể khẳng định ba sự thật đơn giản sau:

 

Cuộc sống vẫn diễn ra. Ngay cả một giám đốc tận tuỵ nhất rồi cũng có thể bất ngờ phải đảo lộn các ưu tiên của mình vì khủng hoảng cá nhân, ví dụ như bị nhồi máu cơ tim hay một ai đó trong gia đình qua đời. Một người chỉ ra rằng, người ta thường lờ đi việc cân bằng giữa công việc và cuộc sống cho đến khi “xảy ra chuyện gì đó.” Nhưng kiểu phớt lờ đó là một lựa chọn, và không phải là một lựa chọn khôn ngoan. Các giám đốc khôn ngoan cho rằng mọi việc rồi sẽ diễn ra tốt đẹp từ khi nào vậy? Nếu cách xử sự đó không có tác dụng trong phòng họp hoặc trong nhà máy, thì nó cũng sẽ không có tác dụng trong đời sống cá nhân của con người.

Có nhiều con đường dẫn tới thành công. Một số người lên kế hoạch chi tiết cho sự nghiệp của mình; số khác lại chộp lấy bất cứ cơ hội nào có được. Một số gắn bó với chỉ một công ty, xây dựng vốn chính trị và hiểu biết sâu sắc về văn hoá cũng như nguồn lực của công ty; số khác lại thường xuyên nhảy việc, dựa vào các mối giao thiệp bên ngoài và nhận thức mới mẻ để có được thành công. Đời sống gia đình cũng tương tự, các cá nhân và gia đình khác nhau cần những giải pháp khác nhau. Nhiều giám đốc có vợ hoặc chồng chỉ làm việc nhà; số khác lại thoả hiệp để cả hai đều có thể đi làm. Các câu hỏi về việc chăm sóc con cái, nhận nhiệm vụ quốc tế, và dùng điện thoại di động lúc ăn tối không có câu trả lời “đúng”. Nhưng những câu hỏi này cần phải được hỏi.

Không ai có thể làm một mình. Trong nhiều con đường dẫn đến thành công, không con đường nào cho phép bạn đi một mình. Mạng lưới hỗ trợ cả trong lẫn ngoài công việc đóng vai trò rất quan trọng – và những thành viên trong mạng lưới đó cũng cần được hỗ trợ. Để có được sự thành công trong sự nghiệp và đời sống cá nhân, cả đàn ông lẫn phụ nữ chắc chắn phải tiếp tục đối mặt với những quyết định khó khăn khi xác định nên tập trung nỗ lực vào đâu. Bài nghiên cứu này chỉ ra rằng nỗ lực tập trung nghiêm túc là cách vượt khó khăn. 

 

Đây là bản dịch không chính thức. Rất mong được đóng góp để bản dịch hoàn thiện hơn

Mọi sao chép xin ghi rõ nguồn: www.unigroup.com.vn

Đóng góp cho bản dịch qua email: maintt@unigroup.com.vn